Đồng chí Tổng bí thư Hà Huy Tập (1906-1941).
Đồng chí Tổng bí thư Hà Huy Tập (1906-1941).
Họ và tên: Hà Huy Tập (Các bí danh hoạt động: Sinh, Giao, Hồng...)
Ngày sinh: 24/04/1906
Ngày mất: 28/08/1941
Quê quán: Làng Kim Nặc, tổng Thổ Ngọa (nay là xã Cẩm Hưng, huyện Cẩm Xuyên), tỉnh Hà Tĩnh - mảnh đất quê hương bạn vốn tự hào với bề dày truyền thống hiếu học và cách mạng.
Vai trò lịch sử: Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (từ tháng 7/1936 đến tháng 3/1938).
Sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước, Hà Huy Tập sớm bộc lộ tư chất thông minh, hiếu học và tinh thần khẳng khái.
Năm 1923, ông tốt nghiệp trường Quốc học Huế với tấm bằng Thành chung. Giống như Trần Phú, ông chọn con đường dạy học để truyền bá tư tưởng yêu nước. Ông từng dạy học tại Nha Trang (Khánh Hòa) và sau đó là ở Vinh (Nghệ An).
Năm 1925: Ông gia nhập Hội Phục Việt (sau này đổi tên thành Tân Việt Cách mạng Đảng) - một tổ chức yêu nước của thanh niên và trí thức Việt Nam lúc bấy giờ. Quá trình dạy học và hoạt động tại Vinh đã giúp ông tiếp xúc rộng rãi với phong trào công nhân.
Giai đoạn 1928 - 1932: Do bị mật thám Pháp truy lùng gắt gao, ông phải sang Quảng Châu (Trung Quốc) hoạt động, sau đó sang Liên Xô học tập tại trường Đại học Phương Đông ở Mát-xcơ-va. Tại đây, ông được đào tạo bài bản về lý luận Chủ nghĩa Mác - Lênin và bắt đầu biên soạn nhiều tài liệu quan trọng cho Đảng.
Năm 1933 - 1935: Trở về Trung Quốc hoạt động, ông cùng với đồng chí Lê Hồng Phong thành lập Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương. Ông đóng vai trò chủ chốt trong việc khôi phục các tổ chức Đảng bị thực dân Pháp đánh phá trắng trợn sau cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930 - 1931).
Tháng 3/1935, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Đảng họp ở Ma Cao (Trung Quốc), ông đóng vai trò quan trọng trong việc chủ trì và soạn thảo các văn kiện Đại hội.
Tháng 7/1936: Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tại Thượng Hải (Trung Quốc), đồng chí Hà Huy Tập được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng. Cùng với Trung ương Đảng, ông đã nhạy bén chuyển hướng chiến lược cách mạng, lập ra Mặt trận Dân chủ Đông Dương, lãnh đạo phong trào đấu tranh công khai, hợp pháp của quần chúng trong thời kỳ 1936 - 1939.
Dưới thời gian làm Tổng Bí thư, ông đã viết nhiều sách báo, tài liệu lý luận sắc bén để tuyên truyền đường lối của Đảng và phản bác các quan điểm sai trái.
Tháng 3/1938: Do sự phản bội của chỉ điểm, Hà Huy Tập bị thực dân Pháp bắt tại Sài Gòn. Sau nhiều tháng giam cầm và tra tấn không thu thập được chứng cứ, Pháp buộc phải thả ông nhưng trục xuất về quản thúc tại quê nhà Hà Tĩnh.
Tháng 3/1940: Lấy cớ ông vẫn tiếp tục hoạt động bí mật, thực dân Pháp bắt ông lần thứ hai và đưa vào giam giữ tại Khám lớn Sài Gòn. Chúng khép ông vào tội "chịu trách nhiệm tinh thần về cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ" và kết án tử hình.
Ngày 28/08/1941, đồng chí Hà Huy Tập cùng với các nhà lãnh đạo tiền bối khác như Nguyễn Văn Cừ, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai... bị thực dân Pháp đưa ra xử bắn tại Hóc Môn (Gia Định).
Đồng chí Hà Huy Tập hy sinh khi mới 35 tuổi, để lại một tấm gương sáng ngời về ý chí kiên cường, lòng trung thành tuyệt đối với lý tưởng cộng sản. Cho đến những giây phút cuối cùng trước họng súng kẻ thù, ông vẫn ung dung, bất khuất, để lại một lời tuyên bố đanh thép, vang vọng lịch sử:
"Tôi chẳng có gì phải hối tiếc. Nếu còn sống, tôi vẫn sẽ tiếp tục hoạt động cho Đảng, cho sự nghiệp giải phóng dân tộc!"
Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang dâng hương tại phần mộ cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập.